Chủ nhật, 18/01/2026 20:42:05 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Pháp luật 21:59, 03/05/2019 GMT+7

Phân biệt tội "che giấu tội phạm" và tội "không tố giác tội phạm"

Thứ 6, 03/05/2019 | 21:59:00 1,734 lượt xem
BPO - "Che giấu tội phạm" và tội "không tố giác tội phạm" là hai tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Để phân biệt rõ hai tội danh này, trước hết chúng ta phải tìm hiểu kỹ thế nào là “che giấu tội phạm” và thế nào là “không tố giác tội phạm”?

Theo quy định tại Điều 18 của Bộ luật Hình sự thì tội che giấu tội phạm là: Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà bộ luật này quy định. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của bộ luật này.

Và theo quy định tại Điều 19 thì tội không tố giác tội phạm là: Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của bộ luật này. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của bộ luật này. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của bộ luật này.

Xét về nhận thức của người thực hiện hành vi che giấu tội phạm là không biết trước hành vi phạm tội và cũng không có hứa hẹn gì với người thực hiện hành vi phạm tội. Còn đối với tội không tố giác tội phạm là hành vi biết rõ hành vi tội phạm sẽ, đã và đang diễn ra nhưng vẫn “giữ im lặng”

Về thời điểm phạm tội, đối với tội che giấu tội phạm là sau khi biết hành vi tội phạm đã được thực hiện. Còn đối với tội không tố giác tội phạm thì thời điểm phạm tội là bất cứ giai đoạn nào của một hành vi tội phạm khác (sắp, đang và đã xảy ra).

Xét về hành vi cụ thể, đối với tội che giấu tội phạm là các hành vi che giấu người phạm tội, che giấu dấu vết, che giấu tang vật, cản trở điều tra, cản trở việc phát hiện tội phạm, cản trợ việc xử lý người phạm tội. Đối với tôi không tố giác tội phạm là không tố giác hành vi phạm tội tới cơ quan có thẩm quyền.

Về chủ thể, đối với tội che giấu tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với tội không tố giác tội phạm thì chủ thể là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự trừ ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nếu hành vi phạm tội của người đó không thuộc các tội phạm đặc biệt nghiệm trọng hoặc tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia.

MH

  • Từ khóa
31911

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?