Nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, mà người sử dụng lao động không được bồi thường chi phí đào tạo là bất hợp lý. Trong ảnh: Công nhân Công ty TNHH dệt vải Shin Kwang, Khu công nghiệp Minh Hưng III (Ảnh chỉ mang tính minh họa - K.B)
Cụ thể, tại Điều 43 là những quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trong đó, ở Khoản 3 của điều này có quy định nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì: Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của bộ luật này. Trong khi đó, tại Khoản 3 của Điều 62 có quy định như sau: Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài. Quy định như trên là hoàn toàn phù hợp, công bằng đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
Tuy nhiên, điều muốn nói ở đây là trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng với pháp luật, mà nguyên nhân hoàn toàn do khách quan chứ không phải lỗi của người lao động và cả người sử dụng lao động. Trong trường hợp này, nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, mà người sử dụng lao động không được bồi thường chi phí đào tạo là bất hợp lý, là bắt ép người sử dụng lao động phải chịu thiệt nhưng không phải lỗi của mình. Đó là quy định tại Khoản 1, Điều 37, với nội dung như sau: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: ...Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;...
Nói đúng hơn, trong trường hợp trên thì người lao động nhờ được người sử dụng lao động cho đi đào tạo và người lao động này làm tốt công việc của mình nên được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước. Đối với trường hợp người lao động bị bệnh hiểm nghèo, gia đình khó khăn hoặc bị hỏa hoạn, thiên tai..., mà đơn phương chấm dứt hợp đồng thì việc không phải bồi thường chi phí đào tạo... là một quy định nhân văn và được xã hội đồng tình. Nhưng với trường hợp được “lên chức”, được điều chuyển đi làm công tác khác, tức là quyền quản lý và sử dụng người lao động này được chuyển cho người khác, nhưng người quản lý, sử dụng trước đó không được hoàn trả chi phí đào tạo là bất hợp lý, là áp đặt.
Bất cập thứ hai là việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Tại Khoản 1, Điều 126 có quy định như sau: Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây: Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;... Trong điều khoản trên có đưa ra 2 khái niệm “nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”. Xét về mặt ngôn ngữ thì 2 khái niệm trên hoàn toàn mang tính định tính chứ không mang tính định lượng. Mà xét dưới góc độ pháp luật thì mức thiệt hại phải cụ thể là bao nhiêu thì mới có cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phán quyết về mức bồi thường cho hợp tình, hợp lý và đúng pháp luật được. Đồng thời, có như vậy thì cả người bị thiệt hại lẫn người gây ra thiệt hại mới “tâm phục, khẩu phục” được.
Chưa hết, khi Quốc hội khóa XIV phê chuẩn Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương thì chắc chắn sẽ có nhiều quy định trong Bộ luật Lao động không còn phù hợp và phải sửa đổi, bổ sung. Vì trong Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương có hẳn một chương (Chương 19) quy định về hợp tác lao động và các quy định chung về lao động đối với các quốc gia ký hiệp định này. Vì vậy, mong rằng những bất cập nêu trên và những quy định trong Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương sớm được cơ quan chức năng xem xét để tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
N.V

Câu lạc bộ thơ tỉnh Bình Phước phấn đấu có 5 tác phẩm phổ nhạc
Chủ tịch nước Lương Cường: Với bộ máy hành chính mới, Hà Nội cần tiên phong đổi mới tư duy quản lý
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân TPHCM và thông điệp gửi nhân dân cả nước
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập đơn vị hành chính
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử được cấp chậm nhất là ngày 1-1-2026