Cảnh sát hỗ trợ tư pháp dẫn giải phạm nhân về trại giam sau khi bị xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh - Ảnh: T.P
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành (2003) quy định đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm thì cơ quan tố tụng có thể tạm giam khi có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Và chính quy định này đã dẫn đến tình trạng lạm dụng tạm giam. Theo nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trần Văn Độ thì có khoảng 80% vụ án cứ khởi tố là bắt tạm giam, kể cả khi đó là các cháu học sinh, sinh viên...
Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã loại bỏ các yếu tố định tính và quy định rõ các căn cứ tạm giam. Theo quy định tại Khoản 2, 3 và 4, Điều 119 thì việc tạm giam chỉ có thể được áp dụng khi thuộc một trong 7 trường hợp sau: Một là đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm. Hai là không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can. Ba là bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn. Bốn là tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội. Năm là có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Sáu là tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án. Bảy là đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Cụ thể, tại Khoản 2, 3 và 4, Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau:
2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. 3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. 4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp: a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; b) Tiếp tục phạm tội; c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Đồng hành với Bộ luật Tố tụng hình sự, trong Bộ luật Hình sự 2015 cũng đã đưa ra quy định về tội danh: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật với mức hình phạt từ 6 tháng tù đến 12 năm tù và người vi phạm còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm. Cụ thể, tại Khoản 3, Điều 377 trong Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên; Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết; Làm người bị giam, giữ tự sát; Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Bên cạnh đó, tại Khoản 1, Điều 377 của Bộ luật Hình sự 2015 đã đưa ra quy định 5 hành vi bị coi là tội phạm, trong đó các cơ quan tố tụng rất dễ rơi vào trường hợp thứ năm, đó là:
Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn. Như vậy, với những quy định chặt chẽ trong cả hai bộ luật: Tố tụng Hình sự và Hình sự năm 2015, chắc chắn tình trạng lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện việc tạm giam người có hành vi phạm tội sẽ được ngăn chặn và qua đó, án oan sai và kéo dài cũng sẽ được hạn chế.
N.V

Câu lạc bộ thơ tỉnh Bình Phước phấn đấu có 5 tác phẩm phổ nhạc
Chủ tịch nước Lương Cường: Với bộ máy hành chính mới, Hà Nội cần tiên phong đổi mới tư duy quản lý
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân TPHCM và thông điệp gửi nhân dân cả nước
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập đơn vị hành chính
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử được cấp chậm nhất là ngày 1-1-2026