Thứ 4, 08/04/2026 22:41:44 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Pháp luật 14:36, 28/05/2014 GMT+7

Những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo Luật Hải quan

Thứ 4, 28/05/2014 | 14:36:00 1,369 lượt xem

BPO - LTS: Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 29-6-2001, có hiệu lực từ ngày 1-1-2002 và được sửa đổi, bổ sung năm 2005. Sau 12 năm đi vào cuộc sống, Luật Hải quan đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh chính trị, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia, được cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có liên quan ghi nhận. Bên cạnh kết quả đạt được, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi cần có những sửa đổi, bổ sung hoàn thiện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan, hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới. Và theo kế hoạch, tại kỳ họp lần thứ 7, quốc hội khóa XIII (đang diễn ra tại Hà Nội), sẽ thông qua Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi. Dưới đây, Binhphuoc Online xin giới thiệu cùng bạn đọc những điểm mới cơ bản của dự thảo luật này.

* Bốn nhóm nội dung chính trong Dự thảo Luật Hải quan:

Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi có 105 Điều, gồm 8 chương (trong đó giữ nguyên 10 điều, sửa đổi 58 điều, bổ sung 37 điều), có 12 điều khoản giao Chính phủ quy định. Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi có bốn nhóm nội dung chính như sau:

Nhóm thứ nhất là về vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan, nội luật hóa các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trong nhóm vấn đề này, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung chủ yếu sau: Một là thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử (điều 28, 31) Hai là tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan (Điều 22, Điều 23). Ba là áp dụng đầy đủ nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan (điều 17). Bốn là những chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện (các Điều 41, 42, 43, 44). Năm là bổ sung các quy định tạo cơ sở pháp luật để cơ quan hải quan thực hiện cơ chế xác định trước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 4, điều 17, điều 27). Sáu là tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế một cửa quốc gia (Điều 4, điều 23).

Nhóm vấn đề thứ hai là về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại. Sự thay đổi trong quản lý về thủ tục sẽ có tác động đến hầu hết các hoạt động nghiệp vụ hải quan thuộc chức năng nhiệm vụ của hải quan (kiểm tra, giám sát, điều tra chống buôn lậu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu…), theo đó, đòi hỏi quy định trong Luật phải có sự điều chỉnh cho phù hợp về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, bảo đảm mục tiêu đặt ra: đơn giản hóa thủ tục nhưng quản lý hải quan được chặt chẽ. Chính vì vậy, nhóm vấn đề này tập trung ở các nội dung chính: Một là bổ sung quy định về địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7). Hai là tạo cơ sở pháp lý để tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan (các điều từ 77 đến 82). Để bảo đảm quy định thống nhất về kiểm tra sau thông quan, tại Điều 102 dự thảo đã bổ sung quy định để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số nội dung liên quan đến kiểm tra sau thông quan của Luật Quản lý thuế theo hướng các trường hợp kiểm tra sau thông quan thực hiện theo quy định của Luật Hải quan. Ba là tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 88).

Nhóm vấn đề thứ ba là về sửa đổi, bổ sung những quy định trong luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, khả thi của pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, nhóm vấn đề này tập trung ở những nội dung chính: Một là khai bổ sung nội dung đã khai trên tờ khai hải quan sau khi hàng hóa đã thông quan (Điều 28). Hai là, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 34). Ba là quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực Hải quan (Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 39, Điều 40, Điều 62, Điều 91).

Nhóm vấn đề thứ tư là những quy định liên quan đến kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan. Theo đó, Điều 13 trong Dự thảo bổ sung quy định có tính chất nguyên tắc trong việc thành lập Cục hải quan để trên cơ sở đó Chính phủ quy định các tiêu chí thành lập Cục hải quan. Cụ thể như sau: “Chính phủ căn cứ vào khối lượng công việc, quy mô, tính chất hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đặc thù, điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa bàn để quyết định  thành lập Cục hải quan”.

* Tăng thêm quyền cho hải quan:

Điểm đặc biệt trong dự thảo Luật Hải quan sửa đổi chính là về thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 90). Theo đó, trong dự thảo trình Quốc hội tại kỳ họp này, tại điểm b Khoản 1 Điều 93 quy định: Chi cục trưởng chi cục hải quan, Đội trưởng đội kiểm soát hải quan có thẩm quyền tạm giữ người, áp giải người vi phạm.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính - cơ quan chủ trì soạn thảo, cho rằng: Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (Điều 20), cơ quan hải quan chỉ có thẩm quyền khởi tố, điều tra đối với tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Và với đặc thù của hoạt động chống buôn lậu, phạm vi địa bàn ở vùng cửa khẩu giáp biên giới, sân bay, trên biển, nếu không tạm giữ ngay người có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì các đối tượng sẽ nhanh chóng tẩu thoát sang bên kia biên giới hoặc lên máy bay, phương tiện vận tải khác để xuất cảnh, tang vật vi phạm sẽ không còn, không kịp thời ngăn chặn được vi phạm.

Do vậy, tại Điều 90 dự thảo quy định bổ sung thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, là cần thiết. Đồng thời, tại Điều 103 dự thảo bổ sung quy định để sửa đổi, khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới cũng được tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

NV

  • Từ khóa
24429

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?