Thứ 6, 06/02/2026 07:05:51 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Văn hóa 18:34, 15/02/2018 GMT+7

MỪNG XUÂN MẬU TUẤT 2018

Những trạng nguyên năm Tuất

Thứ 5, 15/02/2018 | 18:34:00 3,152 lượt xem
BP - Kể từ khoa thi Minh Kinh bác học đầu tiên của nước ta vào năm Ất Mão (1075), đời vua Lý Nhân Tông, cho đến khoa thi cuối cùng vào năm Kỷ Mùi (1919), đời vua Khải Định, tổng cộng có 185 khoa thi, với 2.898 vị đỗ đại khoa. Các khoa thi vào thời nhà Lý chưa định chế tam khôi nên chưa gọi các vị thủ khoa là trạng nguyên. Đến khoa thi năm Bính Ngọ (1246), đời vua Trần Thái Tông mới đặt thứ bậc theo tam giáp mà bậc nhất giáp có tam khôi: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Trong suốt chiều dài lịch sử khoa cử ở Việt Nam dưới thời phong kiến, có 56 vị được trao học vị trạng nguyên (người đầu tiên là Lê Văn Thịnh và người cuối cùng là Trịnh Tuệ), trong đó 9 người thi đậu vào năm Tuất.

Đền thờ Trạng nguyên Lê Ích MộcĐền thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc

Trạng nguyên Nguyễn Trực (khoa Nhâm tuất 1442)

Nguyễn Trực hiệu là Hu Liêu, tên chữ Nguyễn Công Dĩnh, quê xã Bối Khê, huyện Thanh Oai (TP. Hà Nội). Ông đỗ đầu trong số đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tức trạng nguyên) năm 1442, đời vua Lê Thái Tông. Nguyễn Trực sinh ngày 16-5-1417 (Đinh Dậu), trong gia đình nho học. Năm 1434, ông đi thi Hương và đỗ đầu. Năm Nhâm Tuất (1442), ông dự kỳ thi Đình và đỗ trạng nguyên, trở thành trạng nguyên đầu tiên nhà hậu Lê. Tên tuổi Nguyễn Trực về sau đứng đầu danh sách 33 tiến sĩ cùng khóa trong bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Ông được vua Lê Thái Tông ban sắc Quốc Tử Giám thi thư thưởng hàm Á Liệt khanh. Khoa thi nho học năm 1442 là khóa đầu tiên được lưu vào văn bia và khoa thi này do Nguyễn Trãi làm chủ khảo. Năm 1444, đời vua Lê Nhân Tông, ông được bổ làm Trực học sĩ Viện hàn lâm, kiêm Vũ kỵ úy. Năm 1445, ông được phong Thiếu trung khanh đại phu Ngự sử đài Ngự sử thị Đô úy nhưng ông từ chối. Sau đó, vua Lê Nhân Tông phải ra sắc dụ tới 3 lần ông mới chịu nhận. Trong sự nghiệp của mình, Nguyễn Trực còn từng giữ các chức: Thự trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đặc thụ Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám Thăng Long.

Trạng nguyên Vũ Duệ (khoa Canh Tuất 1490)

Vũ Duệ vốn có tên là Vũ Nghĩa Chi, về sau vua Lê Thánh Tông cho đổi tên Vũ Duệ; là danh thần nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Ông là người làng Trình Xá (Kẻ Chịnh), huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc làng Trình Xá, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, đối đáp lưu loát, 7 tuổi đã đọc thông, viết thạo và biết làm thơ, người đương thời gọi ông là “Thất Tuế thần đồng”. Khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông thi đỗ trạng nguyên năm 22 tuổi, cùng khoa với Ngô Hoán (đỗ bảng nhãn) và Lưu Thư Ngạn (đỗ thám hoa).

Đời vua Lê Hiến Tông, ông giữ chức Tản trị thừa tuyên sứ ty, Tham chính xứ Hải Dương. Năm 1520, đời vua Lê Chiêu Tông, ông giữ chức Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Nhập thị kinh diên, hàm Thiếu bảo, tước Trình Khê hầu và được phong là Trinh ý công thần. Tháng 8 năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), Mạc Đăng Dung lập hoàng đệ Lê Xuân lên làm vua, tức là Lê Cung Hoàng. Tháng 10 năm đó, Vũ Duệ cùng Lại bộ Thượng thư Ngô Hoán và môn đồ là Nguyễn Mẫn Đốc thống suất hương binh đi theo vua Lê Chiêu Tông, nhưng đến Thanh Hóa thì đứt liên lạc, không biết vua ở đâu. Sau đó, họ hướng về lăng tẩm nhà hậu Lê ở Lam Sơn (Thanh Hóa) bái vọng, rồi cùng tự vẫn.

Trạng nguyên Lê Ích Mộc (khoa Nhâm Tuất 1502)

Lê Ích Mộc là người xã Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn (nay thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng), đỗ đầu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (trạng nguyên) khoa Nhâm Tuất 1502, đời vua Lê Hiến Tông cùng với Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ; Nguyễn Cảnh Diễn, Lê Nhân Tế và 24 người khác đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; Phạm Khiêm Bính, Nguyễn Mậu và 34 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông nguyên là đạo sĩ, thi đỗ và được vua sai tuyên đọc chế từ, ông bưng lư hương cháy rực lửa ra trước và bị bỏng rộp hết cả da mà không biết.

Ở khoa thi này, vua đích thân ra đầu bài văn sách hỏi về đế vương trị thiên hạ. Từ khoa thi này, triều đình có lệ treo bảng vàng ghi tên người đỗ ở cửa nhà Thái học. Sau khi thi đỗ trạng nguyên, Lê Ích Mộc làm quan tới chức Tả thị lang và sau đó về trí sĩ tại quê nhà.

Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng (khoa Giáp Tuất 1514)

Nguyễn Đức Lượng là người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội). Ông thi đỗ đầu khoa thi năm Giáp Tuất 1514, đời vua Lê Tương Dực cùng Nguyễn Chiêu Huấn, Hoàng Minh Tá là 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ; Nguyễn Vũ cùng 19 người khác đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; Nguyễn Bỉnh Di và 19 người khác đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Sau khi thi đỗ, ông ra làm quan và được phong tới chức Tả Thị lang bộ Lễ. Khi ông chết được triều đình truy tặng chức Thượng thư.

Trạng nguyên Trần Tất Văn (khoa Bính Tuất 1526)

Trần Tất Văn là người xã Nguyệt Áng, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Hải Dương (nay thuộc quận Kiến An, thành phố Hải Phòng). Ông đỗ đầu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (trạng nguyên) khoa thi năm Bính Tuất 1526, đời vua Lê Cung Hoàng cùng Nguyễn Văn Du, Lưu Trung Doãn là 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ; Lê Quang Bí và 4 người khác đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; Phạm Đình Quang cùng 13 người khác đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

Sau đó, ông làm quan dưới triều Mạc và giữ đến chức Thượng thư, hàm Xuyên bá. Dưới thời Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, ông được giao trông coi việc từ hàn, những văn thư trao đổi giữa nhà Minh, nhà Mạc ông đều tham gia. Đã có lần ông được vua Mạc cử đi sứ nhà Minh, dùng ngoại giao để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước. Bằng lý luận đanh thép và lập luận chặt chẽ, bài biểu của ông đã làm Mao Bá Ôn - tướng nhà Minh, đang tập hợp đại quân ở biên giới chuẩn bị xâm chiếm nước ta khi đọc phải chảy nước mắt rồi quyết định rút quân.

* Trạng nguyên Giáp Hải (khoa Mậu Tuất 1538)

Giáp Hải tên hiệu là Tiết Trai, người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn, tỉnh Bắc Giang. Nguyên quê cha ông ở làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Lúc bé ông mồ côi cha và sống cảnh nghèo túng ở làng mẹ là Công Luận, huyện Tế Giang. Năm 1538, dưới triều Mạc Đăng Doanh, Giáp Hải (32 tuổi), đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh (trạng nguyên) khoa Mậu Tuất 1538 (khoa thi này lấy đỗ 36 tiến sĩ). Năm 1562, đời vua Mạc Mậu Hợp, ông làm Thượng thư bộ Lại, kiêm Đô ngự sử, tước Luân quận công. Năm sau, Giáp Hải được lệnh giữ việc 6 bộ, kiêm chức Đại học sĩ đông các, coi việc tòa Kinh diên, gia phong tước Sách quận công. Ông từng đi sứ sang nhà Minh.

Trạng nguyên Trần Văn Bảo (khoa Canh Tuất 1550)

Nguyên quán của Trần Văn Bảo ở làng Đại Bối, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trước thuộc dòng dõi họ Lê. Vì thế, ông còn có tên là Lê Minh Bảo, sinh năm 1524, tại làng Cổ Chử, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông đỗ trạng nguyên khoa Canh Tuất (1550), niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3, đời Mạc Phúc Nguyên, khi 27 tuổi. Ông giữ các chức như: Lại bộ Thượng thư, Nhập thị kinh diên; đi sứ Trung Quốc đời Minh Thế Tông. Ông được phong tước Nghĩa Sơn Bá, Hồng Xuyên Hầu, Nghĩa Quận Công.

Sau 3 lần dâng sớ xin vua Mạc cải cách chính sự, nhà vua chấp thuận nhưng không thi hành, ông xin từ quan về trí sĩ, năm đó 63 tuổi. Khi nhà Lê trung hưng vời ông ra làm quan nhưng ông đã từ chối để giữ lòng trung với nhà Mạc, theo truyền thống của kẻ sĩ không thờ hai triều. Ngày 1-2-1586, ông từ biệt gia đình, di cư về làng Phù Tải, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là thôn Giải Đông, xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) để ở ẩn. Ông mất ngày 5-12-1610 (Canh Tuất), thọ 86 tuổi.

Trạng nguyên Phạm Duy Quyết (khoa Nhâm Tuất 1562)

Phạm Đăng Quyết lúc nhỏ tên là Phạm Duy Quyết, người làng Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Hải Dương (nay là thôn Kim Khê, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông còn có tên khác là Phạm Duy Áng, có sách chép là Phạm Duy Ưởng hoặc Phạm Duy Trĩ. Ông thi đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Thuần Phúc thứ nhất (1562), đời vua Mạc Phúc Nguyên (khoa thi này lấy đỗ 19 tiến sĩ). Sau khi thi đỗ, ông ra làm quan đến chức Tả Thị Lang.

Trạng nguyên Lưu Danh Công (khoa Canh Tuất 1670)

Lưu Danh Công là người xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay là phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội). Năm 27 tuổi, ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh (trạng nguyên) khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời vua Lê Huyền Tông (khoa thi này lấy đỗ 31 tiến sĩ). Sau khi thi đỗ, ông ra làm quan nhưng thời gian làm quan của ông khá ngắn, chỉ 5 năm và khi ông mất thì đang giữ chức Hàn lâm Thị độc.

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, các khoa thi năm Mậu Tuất (1478), Giáp Tuất (1574), Bính Tuất (1586), Mậu Tuất (1718), Bính Tuất (1646), triều đình không lấy người đỗ trạng nguyên, mà chỉ lấy đỗ bảng nhãn và thám hoa. Sang thời nhà Nguyễn, theo quy định của Gia Long, triều đình nhà Nguyễn không lấy đỗ trạng nguyên, do đó người đỗ cao nhất chỉ là bảng nhãn. Trong 56 vị thi đỗ trạng nguyên, có 3 vị được phong là “Lưỡng quốc trạng nguyên”, gồm: Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trực và Nguyễn Đăng Đạo.

Hồng Hạnh
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư)

  • Từ khóa
93549

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?