Thứ 5, 16/04/2026 22:11:05 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Chính trị 09:19, 04/02/2019 GMT+7

Danh nhân Việt Nam tuổi Hợi

Thứ 2, 04/02/2019 | 09:19:00 2,147 lượt xem

BP - * Lý Thánh Tông, tuổi Quý Hợi - 1023, là vị hoàng đế thứ 3 của triều Lý, trị vì đất nước từ tháng 11-1054 đến khi qua đời. Ông là con trưởng của vua Lý Thái Tổ. Ông là vị vua thông minh xuất chúng, thông kinh truyện, rành âm luật, sở trường về võ lực, có ý chí tự lập, tự cường, có hoài bão xây dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh. Ông còn là vị vua nhân hậu, thương dân, khoan dung độ lượng. Ông ở ngôi 18 năm và đây là thời kỳ cực thịnh của nhà Lý. Trong thời kỳ cầm quyền, Lý Thánh Tông đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, khoan giảm hình phạt, đồng thời bảo trợ Phật giáo và Nho giáo. Ông còn xây dựng quân đội Đại Việt hùng mạnh, thực hiện chính sách đối ngoại cứng rắn với Đại Tống và mở đất về phía Nam.

* Vũ Hữu, sinh năm Quý Hợi - 1443, là nhà toán học và là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Năm 1463, ông đỗ hoàng giáp. Công trình toán học ông để lại cho hậu thế nổi bật là Lập Thành Toán Pháp - phương pháp đo ruộng, tính diện tích ruộng; hình vẽ các thửa ruộng có hình phức tạp và cách tính diện tích loại ruộng này; cách tính bằng bàn tính, bằng phép cửu chương, cửu quy; một số bài tính đố có cho biết đáp số.

*  Phạm Đôn Lễ, tuổi Đinh Hợi - 1457, quê ở Tứ Kỳ (Hải Dương), nhưng ông sinh ra ở làng Hải Triều thuộc tổng Thanh Triều, phủ Long Hưng, huyện Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông đỗ đầu cả 3 kỳ nên gọi là tam nguyên. Ông làm quan đến các chức Tả thị lang rồi Thượng thư. Ông được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi về nước, ông đã đem các kỹ thuật dệt chiếu về truyền bá cho dân làng Hải Triều và dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam Hạ. Với kỹ thuật dệt chiếu bằng bàn dệt nằm có ngựa đỡ sợi (sợi đay) học được của người Trung Quốc, ông đã giúp người dân quê hương dệt ra những loại chiếu đẹp hơn, nhanh hơn.

* Nguyễn Bỉnh Khiêm, tuổi Tân Hợi - 1491. Ông là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XVI. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Lê - Mạc phân tranh cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đỗ trạng nguyên, người đời coi ông là nhà tiên tri số 1 trong lịch sử Việt Nam, đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là Sấm Trạng Trình. Ông cũng được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Bỉnh Khiêm có khả năng là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có tầm nhìn chiến lược thấu suốt về chủ quyền của đất nước trên biển Đông ngay từ thế kỷ XVI. Ông cũng có thể là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến hai chữ Việt Nam - với tư cách là quốc hiệu của dân tộc - một cách có ý thức nhất thông qua di sản thơ văn của ông còn lưu lại đến ngày nay.

* Nguyễn Huy Tự, tuổi Quý Hợi - 1743. Ông sinh ra trong gia đình khoa bảng nổi tiếng ở làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. Năm 17 tuổi, Nguyễn Huy Tự đỗ thứ 5 kỳ thi hương tại trường Nghệ An. Năm 1779, ông được đặc cách làm Tiến triều ứng vụ, tiếp đó là Hiệp lý lương hướng Sơn - Hưng - Tuyên, rồi Đốc đồng Hưng Hóa. Năm 1782, ở kinh đô Thăng Long có loạn kiêu binh. Vương triều và đất nước cùng lâm vào cảnh rối ren, loạn lạc. Năm 1784, ông xin về chịu tang mẹ và không ra làm quan nữa. Năm 1790, vua Quang Trung triệu ông tới Phú Xuân. Ông nhận lời làm Hữu thị lang nhưng sau đó ông mắc trọng bệnh và mất ngày 27-7-1790 tại Phú Xuân, khi 47 tuổi.

* Nguyễn Phúc Đảm, tức vua Minh Mạng, tuổi Tân Hợi - 1791. Ông là vị hoàng đế thứ hai của vương triều Nguyễn và trị vì từ năm 1820 đến khi qua đời. Trong 21 năm trị nước, Minh Mạng ban bố hàng loạt cải cách về nội trị. Ông đổi tên nước Việt Nam thành Đại Nam, lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở Huế, bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Quân đội cũng được xây dựng hùng mạnh. Minh Mạng còn cử quan đôn đốc khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ. Ngoài ra, ông rất quan tâm đến việc duy trì nền khoa cử Nho giáo. Năm 1822, ông mở lại các kỳ thi hội, thi đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Ông nghiêm cấm truyền bá đạo Cơ Đốc vì cho rằng đó là thứ tà đạo làm băng hoại truyền thống dân tộc.

Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước gắn bó với nhau. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, vì xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt là để sẵn sàng chiến thắng tất cả kẻ thù xâm lược và phải giữ được nước mới có điều kiện xây dựng đất nước. Trong quá trình hình thành, phát triển ấy có sự đóng góp to lớn của những danh nhân qua các thời đại. Nhân dịp năm mới - xuân Kỷ Hợi 2019, xin giới thiệu cùng bạn đọc những danh nhân tuổi Hợi trong lịch sử dân tộc.

*Đinh Nhật Thận, sinh năm Ất Hợi - 1815, ông là người xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông nổi tiếng là người thông minh, nhớ lâu và giỏi thơ văn. Năm 1838, dưới triều vua Minh Mạng, ông đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm làm Tri phủ Anh Sơn (nay là huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Nhưng vì tính cương trực, ít lâu sau ông bị cách chức. Năm 1853, Đinh Nhật Thận được phục chức nhưng ông cáo bệnh không ra làm quan nữa. Ở quê nhà, ông mở trường dạy học, làm thuốc; đồng thời vận động người dân khai hoang lập ấp ở làng Thanh Liêm và làng Tiên Hội, gọi là ấp Gia Hội. Khi Cao Bá Quát dấy binh chống triều Nguyễn, Đinh Nhật Thận bị tình nghi có liên quan nên bị bắt giải về kinh (Huế) để xét hỏi. Ít lâu sau, ông được tha và trở về quê dạy học cho đến lúc mất (1866).

Phạm Bành, tuổi Đinh Hợi - 1827, quê ở làng Trương Xá (nay thuộc xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ cử nhân năm 1864. Ông làm quan đến chức Án sát tỉnh Nghệ An, là người nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông bỏ quan về quê cùng với Hoàng Bật Đạt mộ quân khởi nghĩa. Giữa năm 1886, ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình ở Thanh Hóa. Sau khi Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở huyện Yên Định. Nhưng để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị quân Pháp bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú, uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả.

* Lê Ngô Cát, tuổi Đinh Hợi - 1827, là danh sĩ, sử gia đời Tự Đức. Năm 1848, ông đỗ cử nhân và được bổ làm Tri huyện ở Lạng Sơn. Năm 1858, ông làm Án sát Cao Bằng. Năm 1859, ông được Phan Thanh Giản đề cử, cùng với Trương Phúc Hào dự vào việc hiệu đính Việt sử ca hay Sử ký quốc ngữ ca, tức Đại Nam quốc sử diễn ca. Nguyên quyển “Đại Nam quốc sử diễn ca” vốn của một tác giả ở tỉnh Bắc Ninh khởi thảo. Lê Ngô Cát sửa lại và chép tiếp thêm đến hồi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc. Bộ sử này có Phạm Xuân Quế nhuận sắc. Đến năm 1873, Phạm Đình Toái có sửa chữa 4 phần rút lấy một, rồi Phan Đình Thực và các danh sĩ lại nhuận sắc thêm.

* Phan Kế Bính, tuổi Ất Hợi - 1875, quê ở làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội). Năm 1906, Phan Kế Bính dự thi Nho học và đỗ cử nhân, nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Trong thời gian này, ông công khai hưởng ứng phong trào Duy Tân nhưng không trực tiếp chỉ đạo. Từ năm 1907, ông bắt đầu viết cho nhiều tờ báo trong nước, với vai trò là một trợ bút, chủ yếu là dịch thuật, biên khảo sách chữ Hán. Sau đó, ông lần lượt cộng tác với các tờ báo: Đông Dương tạp chí, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn. Đặc biệt với tờ Đông Dương tạp chí, ông có thời gian làm trong Ban biên tập Đông Dương tạp chí và tác phẩm của ông phần lớn từng đăng trên tạp chí này.

* Bùi Kỷ, tuổi Đinh Hợi - 1887, quê ông ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân. Năm 1909, trong lần đầu dự thi hương, Bùi Kỷ đỗ cử nhân. Năm sau vào Huế thi hội và thi đình, ông lại đỗ Phó bảng và được triều đình Huế bổ đi làm Huấn đạo, nhưng Bùi Kỷ từ chối, lấy cớ phải ở nhà phụng dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu. Năm 1914, Bùi Kỷ được phủ Thống sứ Bắc kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, nhưng đều từ chối. Năm 1917, ông ra Hà Nội dạy học tại các Trường cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính, Cao đẳng pháp chính. Từ năm 1932, ông dạy tại trường Thăng Long do một số trí thức tiến bộ là Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp lập ra.

* Võ Nguyên Giáp, sinh năm Tân Hợi - 1911, tại Quảng Bình. Ông là Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng là người chỉ huy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, là một trong những người góp công thành lập Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là “người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Ngày 22-12-1944, ông thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 2-11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho ông khi mới 37 tuổi. Là bậc thầy của chiến tranh du kích, ông đã trực tiếp chỉ huy quân đội đánh thắng quân Pháp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và sau này là chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cùng với Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Võ Nguyên Giáp là người Việt Nam thứ hai khắc ghi tên tuổi của mình vào hàng ngũ 10 vị nguyên soái lừng danh nhất trong lịch sử nhân loại.

Ngày 7-5-2004, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể chuyện Chiến dịch Điện Biên Phủ cho các cháu thanh, thiếu niên, nhi đồng - Ảnh internet

* Văn Cao, sinh năm Quý Hợi - 1923, ông là tác giả của Tiến quân ca - Quốc ca của nước ta từ năm 1945 đến nay. Ông được giới chuyên môn và công chúng yêu nhạc đánh giá là một trong 3 nhạc sĩ nổi bật nhất của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam trong thế kỷ XX, cùng với Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Ông được nhiều người xem là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử phát triển của văn hóa Việt Nam - ở nơi “dòng chảy” của sáng tạo cá nhân một con người có sự “hợp lưu” xuyên suốt của 3 nhánh nhạc - họa - thơ trong gần như toàn bộ sáng tác đa dạng của ông. Dù không gắn bó liên tục quá lâu với một địa hạt nào trong số đó nhưng đối với những “miền” nào ông đã bước qua thì Văn Cao cũng đều lưu dấu không ít sáng tạo mang tính khai phá - mở lối dành cho những người đến sau ông.

N.Minh (tổng hợp)

  • Từ khóa
25960

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?