Thứ 4, 08/04/2026 02:54:02 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Chính trị 14:47, 03/04/2018 GMT+7

KỶ NIỆM 1.050 NĂM NHÀ NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT (968-2018)

Quốc tộ - Tuyên ngôn hòa bình

Thứ 3, 03/04/2018 | 14:47:00 1,670 lượt xem
BP - Ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn học và khảo cổ học đều có chung nhận định rằng: Quốc tộ - Vận nước, là một trong những bài thơ sớm nhất có tên tác giả của văn học viết Việt Nam. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nếu như Nam quốc sơn hà được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam thì Quốc tộ được coi là bản tuyên ngôn hòa bình đầu tiên của Việt Nam. Bài thơ là câu trả lời của thiền sư Đỗ Pháp Thuận đối với hoàng đế Lê Đại Hành khi được hỏi về “Vận nước ngắn dài thế nào”?

Đôi nét về tác giả

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, thiền sư Pháp Thuận sinh năm 914 và mất năm 990. Tên thật của ông là Đỗ Pháp Thuận, là thiền sư đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Ông là sư trụ trì ở chùa Cổ Sơn, làng Thừ, quận Ải. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thiền sư là người ra đi không để lại dấu vết, chính điều đó nói lên tinh thần thiền tông (bất lập văn tự), khiêm hạ, ẩn danh, vô ngã. Mặt khác, do ngoại nhân đưa về Kim Lăng đốt để hủy diệt văn hóa, chính điều đó khiến tiểu sử các vị thiền sư càng sơ sài, ngắn gọn. Vì thế, cho đến ngày nay, không ai biết ông là người ở đâu, chỉ biết sư họ Đỗ và là người học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, hiểu rõ việc nước.

Đền thờ vua Lê Đại Hành ở cố đô Hoa Lư - Ảnh: S.H

Từ khi còn nhỏ, ông đã xuất gia và thờ thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Sau khi đắc pháp, sư nói ra lời nào cũng phù hợp với sấm ngữ. Đang vào lúc nhà tiền Lê dựng nghiệp, trù kế hoạch định sách lược, nhà sư đã tham dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành càng thêm kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ pháp sư và đem việc soạn thảo văn thư giao phó cho sư.

Là một vị chân tu uyên bác và trí tuệ mẫn tiệp, thiền sư Pháp Thuận từng giúp vua Lê Đại Hành thực hiện nhiều sứ mệnh phức tạp cả trong việc trị quốc lẫn ngoại giao. Tình huống được coi là gây ấn tượng mạnh nhất trong đối ngoại của thiền sư Pháp Thuận là 2 lần cải trang làm người lái đò, người coi sông để đón tiếp sứ giả nhà Tống là Quốc Tử giám bác sĩ Lý Giác năm 986 và năm 987. Lần đầu, năm 986, Lý Giác sang là để mang chế sách phong cho vua Lê Đại Hành làm An Nam đô hộ Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kinh triệu quận hầu. Biết Lý Giác rất thích chuyện văn thơ nên khi hay tin vua Tống cử ông đi sứ sang nước ta, vua Lê Đại Hành đã sai thiền sư Pháp Thuận, lúc này đã 72 tuổi, ra đón trong vai người lái đò chở đoàn sứ qua sông, đồng thời cũng là để thăm dò. Khi ngồi trên thuyền, thấy 2 con ngỗng tung tăng bơi lội trên sông, tức cảnh sinh tình, Lý Giác mới nảy ra 2 câu thơ:

Song song ngỗng một đôi;

Ngửa mặt ngó ven trời.

Khi ấy, thiền sư Pháp Thuận đang là người lái thuyền cầm chèo, nghe vậy đã cất giọng ngâm tiếp:

 Lông trắng phơi dòng biếc;

Sóng xanh chân hồng bơi.

Nghe xong vế đối của thiền sư Pháp Thuận, chánh sứ Lý Giác tỏ rõ thái độ thán phục trước tài ứng thơ, đối đáp của người lái đò. Vì thế, có ý kiến cho rằng, bài thơ “Nga nga lưỡng nga nga” là của thiền sư Pháp Thuận, nhưng không phải. Vì 2 câu đầu trong bài thơ này là của sứ giả nhà Tống Lý Giác, còn 2 câu sau do thiền sư Pháp Thuận họa theo. Với tài học rộng, hiểu nhiều nên thiền sư Pháp Thuận đã lấy từ điển cố văn học Trung Quốc để đáp lại lời của Lý Giác. Vì thế, bài thơ là một tuyệt phẩm mà các bậc nho sĩ đương thời khen là “thi trung hữu họa”, tức trong thơ có họa, thơ vẽ nên một họa phẩm.

Về bài thơ Quốc tộ - Vận nước

Giai thoại kể rằng, khi đã lên ngôi, vua Lê Đại Hành vẫn rất tín nhiệm các vị thiền sư trong việc bàn quốc sách, trong đó có thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Ở cái thời mà mọi sự đều còn rất sơ khai trong quản lý quốc gia, gợi ý của những bậc trí tuệ cao siêu như các thiền sư đã có giá trị khai đường mở lối trong rừng rậm. Và một lần, vua Lê Đại Hành đã mời thiền sư Pháp Thuận vào cung để tham vấn về việc cần làm gì để đắp bồi vận nước cho vững bền. Thiền sư Pháp Thuận đã đọc bài thơ chỉ có 20 chữ, tựa Quốc tộ:

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình.

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh...

Dịch nghĩa:

Vận nước như dây mây leo quấn quýt,

Ở cõi trời Nam (mở ra) cảnh thái bình.

Vô vi ở nơi cung điện,

Khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.

Ý của thiền sư Pháp Thuận là vận nước như mây quấn. Ta phải giữ gìn đất nước như thế quấn của dây mây. Một sợi mây tuy có dẻo dai nhưng vẫn dễ đứt, dễ chặt, nếu biết cách bẻ, nhưng nhiều dây mây quấn lại thành bó thì khó có sức mạnh nào bẻ gãy, chặt đứt được. Từ thế quấn của những sợi mây mà suy ra việc trăm họ hướng về vua với một lòng tôn kính, vua lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình, nỗi khổ của dân cũng là nỗi khổ của mình. Đồng thời, biết tìm cách hóa giải những xung đột nội bộ của một quốc gia. Liên kết nhân tâm lại với nhau như những dây mây riêng lẻ thành một bó mây..., thì thế nước sẽ vững bền muôn thuở. Và qua hình tượng đó, thiền sư khẳng định: Muốn cho đất nước được yên bình, vua phải biết cách áp dụng phương pháp, nói cách khác là nguyên lý tu dưỡng “vô vi” nơi triều đình của mình và điều tối kỵ là không được kiêu ngạo. Bởi trong kinh Phật có định nghĩa từ “vô vi” như sau: Cẩn thận không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bặm của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc tơ che dấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt, đó là vô vi.

Và cứ theo khái niệm của nhà Phật về “vô vi”, thì đến một thường dân thực hiện hạnh “Vô vi” đã là vô cùng khó, huống chi đấng quân vương, người có quyền tối thượng đối với quốc gia, xã tắc, lại có cả tam cung lục viện..., thì khó biết chừng nào. Thế nhưng, đấng quân vương nào thực hiện được đạo lý “vô vi” như lời kinh Phật, như lời thiền sư Pháp Thuận thì vận nước sao lại không vững bền, thịnh trị cho được? Sao mà trăm họ không âu ca thái bình cho được? Chính vì vậy, lời thơ “Vô vi cư điện các” đã hơn 1.000 năm qua còn nguyên tính thời sự và hàng ngàn năm sau nữa chắc chắn vẫn còn giá trị.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, rằng: Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân. Thực hiện di huấn của Người và phát huy truyền thống của dân tộc, với Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để đưa công tác xây dựng Đảng, chống tiêu cực, suy thoái lên một bước cao hơn, quyết liệt hơn, thể hiện quyết tâm chính trị, ý chí nhất quán của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và với việc đưa ra xét xử những vụ đại án, những cán bộ cao cấp nhưng thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong thời gian gần đây suy cho cùng cũng là để thực hiện “vô vi” ngay từ Trung ương đến cơ sở. Một khi ở trên đã đạt được đến “vô vi”, thì ắt thiên hạ sẽ thái bình, đất nước sẽ phát triển bền vững.

Diệp Viên

  • Từ khóa
20330

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?