LTS: Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2006. Sau khi luật này có hiệu lực, công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và giúp cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, tình hình tham nhũng vẫn còn diễn biến phức tạp, số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít, một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm, thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp... Đây là lý do để sửa đổi, bổ sung luật này cho phù hợp với tình hình thực tế của nước ta hiện nay. Và với nội dung vừa được công bố, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi được kỳ vọng sẽ khắc phục được những bất cập của luật hiện hành. Cụ thể là:
MINH BẠCH TRONG QUẢN LÝ BẢN KÊ KHAI TÀI SẢN, THU NHẬP
Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, bản kê khai tài sản, thu nhập của các đối tượng thuộc diện phải kê khai, do đơn vị hoặc bộ phận phụ trách công tác tổ chức nhân sự của cơ quan, tổ chức nơi người kê khai công tác quản lý. Đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý thì ban tổ chức cấp ủy cùng cấp quản lý. Đây được xem là một trong những hạn chế, bất cập của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành. Cụ thể, tại Điều 47 có quy định như sau: Việc xác minh tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản. Việc xác minh tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây: Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết; Theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Có hành vi tham nhũng.
Như vậy, việc xác minh tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan, tổ chức thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản hoặc phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết... Chính vì vậy, thực tế quản lý bản kê khai tài sản từ trước tới nay chỉ là việc xếp vào hồ sơ của từng cá nhân rồi cất kỹ trong tủ. Bên cạnh đó, do luật không có quy định cụ thể về trách nhiệm cũng như thẩm quyền của tổ chức, cá nhân quản lý bản khai này nên đã dẫn đến tình trạng việc xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ít được thực hiện từ khi có luật đến nay.
Để khắc phục tình trạng trên, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi đã quy định về việc quản lý bản kê khai tài sản, thu nhập một cách tập trung theo từng lĩnh vực, ngành hoặc Trung ương và địa phương. Theo đó, cơ quan, đơn vị quản lý tập trung bản kê khai là cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; Thanh tra Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm toán nhà nước; Thanh tra bộ, đơn vị; Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng; Đơn vị phụ trách công tác tổ chức - cán bộ tại các ban của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ; Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; Thanh tra cấp tỉnh (Điều 41)... Và điều này cho thấy, các cơ quan, đơn vị này có địa vị pháp lý “độc lập tương đối” với cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai. Với điểm mới này, giúp cho việc theo dõi, giám sát và kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai hiệu quả hơn, qua đó kịp thời xác minh để phát hiện, xử lý tham nhũng. Đồng thời, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng cũng quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận bản kê khai, cung cấp thông tin bản kê khai và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bản kê khai (từ Điều 49 đến Điều 52).
THEO DÕI BIẾN ĐỘNG VỀ TÀI SẢN, THU NHẬP
Nội dung của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành không có điều, khoản nào quy định về trách nhiệm hay nhiệm vụ theo dõi biến động về tài sản, thu nhập của các đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản. Vì vậy, việc tài sản của các đối tượng kê khai tăng hay giảm và lý do vì sao thì các cơ quan quản lý đối tượng này cũng không hay biết gì. Thậm chí tài sản tăng lên do tham nhũng thì cũng không ai biết. Hoặc tài sản giảm đi do hối lộ thì cũng chẳng ai hay. Do đó, việc xử lý tham nhũng chỉ mới thực hiện ở những vụ án lớn và có chứng cứ rõ ràng.
Để khắc phục bất cập này, dự thảo luật đã bổ sung chế tài theo dõi biến động tài sản, thu nhập của đối tượng kê khai. Đây là quy định hoàn toàn mới nhằm khắc phục tính hình thức trong quy định hiện hành. Dự thảo quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập trong việc chủ động thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu bản kê khai tài sản, thu nhập; cập nhật thông tin, dữ liệu về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai và cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm giải trình, làm rõ về tài sản, thu nhập tăng thêm và quyết định việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ quy định. Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 53 trong dự thảo có quy định như sau: Cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập theo dõi biến động tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thông qua các phương thức sau: Thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu có liên quan đến bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và cập nhật thông tin, dữ liệu về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; Yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm giải trình, làm rõ về tài sản, thu nhập tăng thêm. Căn cứ kết quả theo dõi biến động tài sản, thu nhập, cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm yêu cầu người kê khai tài sản, thu nhập giải trình về tài sản, thu nhập tăng thêm và quyết định việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ quy định tại Điều 56 Luật này.
Dự thảo cũng đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 54) và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan (Điều 55). Theo đó, trách nhiệm của cơ quan quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (sửa đổi, bổ sung): Yêu cầu người đã kê khai giải trình khi có căn cứ cho rằng việc kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập kê khai không minh bạch hoặc khi có dấu hiệu bất thường về tài sản, thu nhập, chi tiêu. Tiến hành xác minh tài sản, thu nhập theo thẩm quyền hoặc đề nghị, yêu cầu cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền xác minh khi xét thấy việc giải trình của người kê khai không hợp lý (Điều 54). Và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, gồm: Ngân hàng, cơ quan quản lý nhà đất, đăng ký tài sản, cơ quan quản lý thuế, hải quan, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, tài liệu phục vụ việc theo dõi biến động tài sản, thu nhập khi cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu, đề nghị.
Chính việc theo dõi chặt chẽ sự biến động về tài sản, thu nhập của đối tượng phải kê khai, các cơ quan có thẩm quyền sẽ chủ động được việc phòng và chống tham nhũng.

Câu lạc bộ thơ tỉnh Bình Phước phấn đấu có 5 tác phẩm phổ nhạc
Chủ tịch nước Lương Cường: Với bộ máy hành chính mới, Hà Nội cần tiên phong đổi mới tư duy quản lý
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân TPHCM và thông điệp gửi nhân dân cả nước
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập đơn vị hành chính
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử được cấp chậm nhất là ngày 1-1-2026