Từ năm 1939-1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần và đã vượt ngục 2 lần. Tháng 11-1939, ông bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La, 2 năm sau giải về Hà Nội thì ông vượt ngục. Tháng 1-1945, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Lúc này, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc kỳ (Bộ tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), phụ trách chiến khu Quang Trung trong vai trò Bí thư Khu ủy. Tháng 8-1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Tháng 12-1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320. Ông được phong hàm thiếu tướng năm 1948 và được phong vượt cấp lên thượng tướng vào năm 1959. Từ tháng 11-1953 đến 5-1978, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông vừa làm Tổng tham mưu trưởng vừa được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị - Thiên (1972), chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miềm Nam thống nhất đất nước. Ông được phong hàm đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1974. Từ 1979-1986, ông đã chỉ huy quân đội ta chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại biên giới Tây Nam và phía Bắc đất nước. Thời điểm này, ông được giao nhiệm vụ Phó bí thư thứ nhất, rồi Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 2-1980, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đến năm 1986 thì nghỉ hưu. Ông mất năm 2002, thọ 85 tuổi.
Đánh giá về ông, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “...Đại tướng Văn Tiến Dũng là một vị tướng có tinh thần quyết thắng lớn và tài ba thao lược xuất chúng, một người cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng của Đảng, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Trong chỉ đạo các chiến dịch, ông là người thực hiện thành công chiến thuật “Mở hoa trong lòng địch” đã tạo nên một nghệ thuật quân sự đánh giặc độc đáo của quân đội ta.
Giới nghiên cứu khoa học quân sự đánh giá ông là một trong những vị tướng lĩnh danh tiếng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Tấn Phong

Câu lạc bộ thơ tỉnh Bình Phước phấn đấu có 5 tác phẩm phổ nhạc
Chủ tịch nước Lương Cường: Với bộ máy hành chính mới, Hà Nội cần tiên phong đổi mới tư duy quản lý
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân TPHCM và thông điệp gửi nhân dân cả nước
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập đơn vị hành chính
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử được cấp chậm nhất là ngày 1-1-2026