Thứ 6, 03/04/2026 18:54:45 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Chính trị 15:45, 26/06/2015 GMT+7

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về trưng cầu ý dân

Thứ 6, 26/06/2015 | 15:45:00 2,062 lượt xem
BP - Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta luôn thể hiện rõ quan điểm “dân là gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Chính vì vậy, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân sẽ góp phần thiết thực vào việc phản ánh, phát huy giá trị tư tưởng và truyền thống đó. Đồng thời, tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực, đông đảo và quyết định vào các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vậy trưng cầu ý dân là gì?

Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh niên năm 2002 của các tác giả Vĩnh Lộc, Bảo Đoan, Ngọc Hạnh, Quỳnh Tâm, thì cụm từ “trưng cầu” có nghĩa là tìm hỏi. Ví dụ như: Trưng cầu ý dân. Theo khái niệm trong dự thảo Luật Trưng cầu ý dân, thì: “Trưng cầu ý dân” là việc Nhà nước tổ chức để Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định về những vấn đề quan trọng của đất nước.”Đề nghị trưng cầu ý dân” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của luật này đề xuất vấn đề cần đưa ra trưng cầu ý dân.

Còn theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì cụm từ “Trưng cầu ý dân” hay bỏ phiếu toàn dân là một cuộc bỏ phiếu trực tiếp, trong đó toàn bộ các cử tri được yêu cầu chấp nhận hay phủ quyết một đề xuất đặc biệt. Đó có thể là sự thông qua một hiến pháp mới, một sự sửa đổi hiến pháp, một bộ luật, một sự bãi miễn một quan chức đã được bầu hay đơn giản chỉ là một chính sách riêng của Chính phủ. Trưng cầu ý dân hay bỏ phiếu toàn dân là một hình thức dân chủ trực tiếp.

Từ khái niệm trên đây cho thấy, trung cầu ý dân là việc làm phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời đây cũng là hoạt động mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp. Xuất phát từ quan điểm trên, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân được xác định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Cụ thể, ở trang 36 trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có nêu: Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Bên cạnh đó, trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, chỉ rõ: Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước; ban hành Luật về trưng cầu ý dân.

Và chẳng phải đến bây giờ vấn đề trưng cầu ý dân mới được bàn tới, mà vấn đề dân chủ trong nhân dân và quyền làm chủ của nhân dân đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Vì ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - năm 1946 và các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 đều có quy định về trưng cầu ý dân. Cụ thể, tại Điều 32 của Hiến pháp năm 1946 có quy định như sau: Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định. Cũng trong Hiến pháp 1946, tại Khoản C của Điều 70 đã nêu rõ: Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.

Trong bản Hiến pháp năm 2013, tại Điều 29 quy định về trưng cầu ý dân như sau: Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Và tại khoản 15 của Điều 70 đã quy định cụ thể về những nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội. Theo đó, Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định trưng cầu ý dân. Tại khoản 13 Điều 74 quy định về những nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội như sau: Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội. Tại khoản 4 Điều 120 quy định rõ về thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân như sau: Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định. Quy định về quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, tại Điều 6 trong Hiến pháp năm 2013 có quy định: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu: Phải ra sức thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị. Và khi quyết định một vấn đề gì, Người cũng luôn “lấy dân làm gốc”. Tư tưởng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang được chuyển hóa bằng những việc làm cụ thể trong công tác xây dựng pháp luật cũng như trong các lĩnh vực hoạt động khác. Vì vậy, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân sẽ tạo điều kiện để nhân dân tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước. Và điều này sẽ thúc đẩy nhanh việc xây dựng đất nước dân chủ, công bằng, văn minh, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

N.V

  • Từ khóa
13332

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?