Thứ 4, 01/04/2026 05:38:14 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Chính trị 14:56, 11/12/2013 GMT+7

Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh:

Giải trình chất vấn tại kỳ họp thứ tám, HĐND tỉnh khóa VIII

Thứ 4, 11/12/2013 | 14:56:00 1,875 lượt xem

Tại kỳ họp lần thứ tám, HĐND tỉnh khóa VIII diễn ra từ ngày 4 đến 6-12-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh đã có Báo cáo số 22/BC-TA  giải trình một số nội dung chất vấn của Đại biểu HĐND tỉnh. Dưới đây, Binhphuoc Online xin giới thiệu cùng bạn dọc nội dung trong văn bản này:

Công tác giải quyết án của TAND tỉnh nhiều năm liền đạt thấp (dưới 90% án đã thụ lý). Trách nhiệm của Chánh án TAND tỉnh và biện pháp khắc phục trong năm 2014?

Trả lời: Trong 3 năm công tác giải quyết án của ngành tòa án tỉnh đạt tỷ lệ dưới 90% án đã thụ lý, cụ thể: Năm 2011: Thụ lý 5.555 vụ, giải quyết 4.685 vụ, đạt 84.3%; án quá hạn 102 vụ; tỷ lệ quá hạn là 1,83% trên tổng số án thụ lý. Năm 2012: Thụ lý 6.422 vụ, giải quyết 5.396 vụ, đạt 84%; án quá hạn 122 vụ; tỷ lệ quá hạn là 1,89% trên tổng số án thụ lý. Năm 2013: Thụ lý 6.611 vụ, giải quyết 5.460 vụ, đạt 82,6%; án quá hạn 51 vụ; tỷ lệ quá hạn là 0,77% trên tổng số án thụ lý.

Nguyên nhân khách quan:

Về án hình sự: Nguyên nhân các vụ án hình sự nói chung càng ngày càng có tính chất phức tạp, thủ đoạn phạm tội tinh vi, trong đó nổi lên là các vụ án giết người (33 vụ), cố ý gây thương tích (156 vụ), trộm cắp tài sản (313 vụ), hiếp dâm trẻ em (18 vụ), giao cấu với trẻ em (21 vụ), lừa đảo chiếm đoạt tài sản với giá trị lớn, liên quan đến nhiều người, nhiều địa phương khác nhau (50 vụ),… Một số vụ án phải chờ kết quả giám định của cơ quan chuyên môn (như giám định tâm thần, giám định pháp y, giám định tài sản trong tố tụng hình sự). Bên cạnh đó, do trong vụ án có nhiều bị cáo phạm tội ở nhiều nơi, bị nhiều tòa án khác nhau thụ lý giải quyết nên các bị cáo bị tạm giam ở nhiều tỉnh khác nhau, đặc biệt có bị cáo hiện đang chấp hành án ở trại giam nên việc trích xuất bị cáo khó khăn (có vụ phải hoãn phiên tòa từ 2 đến 3 lần do không trích xuất được bị cáo, ví dụ vụ án Lâm Thị Dư, vụ án Nguyễn Đăng Bình). Bình Phước là tỉnh có nhiều dân di cư ở các địa phương khác tới, chỗ ở không ổn định, người liên quan và bị hại ở các địa phương khác nhau, nên việc triệu tập tham gia phiên tòa cũng gặp nhiều khó khăn.

Về  án dân sự, án hôn nhân gia đình: phần nhiều là án liên quan đến quyền sử  dụng đất, án phải chờ kết quả ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án khác, tài sản tranh chấp trong các vụ án hôn nhân và gia đình, dân sự ở nhiều địa phương khác nhau, án có bị đơn hoặc người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan cố tình trốn tránh, một số vụ án phải chờ kết quả trả lời của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền mới có cơ sở giải quyết, như: chờ văn bản trả lời của UBND huyện trong việc giải quyết các loại án có liên quan đến trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chờ kết quả giám định của cơ quan chuyên môn khác; một số đương sự không hợp tác,  triệu tập nhiều lần không đến; một số vụ án có yếu tố nước ngoài nên việc ủy thác tư pháp phải đợi kết quả lâu và không có kết quả (trong số 8 vụ án ly hôn ủy thác ra nước ngoài thì chỉ có 1 vụ có kết quả, mặc dù đã được ủy thác đến lần thứ hai, có vụ ủy thác từ năm 2011 đến nay cũng chưa có kết quả). Mặt khác trước kia đất đai được đo đạc bằng thủ công, không có máy xác định tọa độ nên khi xảy ra tranh chấp, xác minh đo đạc lại diện tích đất thì không đúng và lệch nhiều so với diện tích mà cơ quan có thẩm quyền cấp. Bên cạnh đó, một số vướng mắc về nghiệp vụ chuyên môn vẫn chưa được hướng dẫn kịp thời nên việc vận dụng pháp luật vào thực tiễn công tác xét xử gặp nhiều khó khăn nên nhiều trường hợp khi giải quyết những vấn đề cụ thể bị lúng túng, hoặc nhận thức khác nhau cho nên kết quả giải quyết không thống nhất, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử.

Về án kinh doanh thương mại: Có liên quan đến nhiều người, nhiều đương sự ở nhiều địa phương khác nhau, địa chỉ không rõ ràng nên rất khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập đương sự. Theo quy định thì nghĩa vụ nộp chứng cứ là của đương sự, tuy nhiên đương sự không cung cấp được chứng cứ hoặc chứng cứ không đầy đủ, vì vậy để đảm bảo cho việc xét xử đúng thì tòa án vẫn phải tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ, do đó thời gian bị kéo dài. 

Số lượng án thụ lý hàng năm tăng nhiều (năm 2012 so với năm 2011 tăng 867 vụ; năm 2013 so với 2012 tăng 189 vụ; năm 2013 so với 2011 tăng 1.056 vụ), nhưng biên chế phân bổ cho ngành lại không tăng (năm 2010 đến 2012 phân bổ 169 biên chế, từ 2013 phân bổ 206 biên chế,  số biên chế mới được xét tăng, nên phải chờ thời gian tuyển dụng); do đó tại một số đơn vị số cán bộ công chức, thẩm phán còn thiếu so với chỉ tiêu. Năm 2013 biên chế toàn ngành hiện có 187/206 biên chế được giao, trong đó có 60 thẩm phán/91 biên chế  được giao (thiếu 31 thẩm phán: tỉnh thiếu 1, huyện thiếu 30); nếu tính bình quân thì mỗi thẩm phán đã giải quyết 7,5 vụ án/1 tháng, nhưng theo Công văn số 392/TANDTC ngày 25-7-2012 về việc phân bổ chỉ tiêu biên chế đối với TAND địa phương trong đó quy định về định mức xét xử của TANDTC thì thẩm phán các tỉnh miền núi cấp huyện và tỉnh bình quân là 3 vụ/tháng, như vậy với số liệu trên thì đã vượt gấp 2,5 lần định mức; hơn nữa trong năm có 5 thẩm phán tham gia học cao cấp chính trị, 13 thư ký tham gia lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử  nhiều nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ giải quyết án. 

Cụ thể tại một số TAND cấp huyện: Lộc Ninh được biên chế 9 thẩm phán, thực hiện được 4, trong đó 1 thẩm phán học cao cấp chính trị tập trung; hiện có 3 thẩm phán giải quyết án (trong đó có chánh án), trong năm giải quyết 573 vụ; như vậy mỗi thẩm phán giải quyết 191 vụ/năm (16 vụ/tháng). Bù Gia Mập được biên chế 10 thẩm phán, thực hiện được 5; trong năm giải quyết 722 vụ án, như vậy mỗi thẩm phán giải quyết 144,4 vụ/năm (12 vụ/tháng). Hớn Quản được biên chế 7 thẩm phán, thực hiện được 3; trong năm giải quyết 485 vụ án, như vậy mỗi thẩm phán giải quyết 161,6 vụ/năm (13,5 vụ/tháng);

Một nguyên nhân nữa cũng rất quan trọng: Năm công tác của ngành TAND tính từ 1-10 năm nay đến 30-9 năm sau, nên sau khi kết thúc năm công tác của ngành thì công việc xét xử chậm lại do phải hoàn chỉnh các hồ sơ vụ án đã xét xử của tháng 9, chuẩn bị các hội nghị tập huấn nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm công tác xét xử, chuẩn bị các nội dung báo cáo thi đua và bình xét khen thưởng năm. Bên cạnh đó, số án thụ lý trong tháng 10 và tháng 11 hàng năm là tăng nhưng án giải quyết thì chậm vì các lý do trên, dẫn đến tỷ lệ giải quyết án chung trong năm giảm (nếu tính theo mốc thời gian của ngành thì tỷ lệ các năm đều đạt cao hơn. Cụ thể: 2011 đạt 90%, 2012 đạt 89,5%, 2013 đạt 91,47%). So với số liệu này, hàng năm chỉ tiêu thi đua đều đạt và vượt so với chỉ tiêu ngành đề ra (bình quân ngành là 90%).

Nguyên nhân chủ quan:

Bên cạnh những cán bộ công chức tích cực chủ động trong công tác vẫn còn có một số cán bộ công chức chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm trong việc giải quyết án dẫn đến tình trạng để án quá hạn; chưa cập nhật các văn bản pháp luật kịp thời dẫn đến chất lượng giải quyết án chưa cao.

Về cơ sở vật chất của ngành tòa án còn  khó khăn, chưa đảm bảo cho nhiệm vụ chuyên môn. Hiện nay trụ sở làm việc và hội trường xét xử nhiều đơn vị tòa án cấp huyện còn thiếu thốn, chật chội thậm chí có đơn vị còn phải mượn hoặc thuê trụ sở làm việc (TAND huyện Hớn Quản thuê nhà của dân, TAND huyện Bù Gia Mập mượn trụ sở cũ của công an huyện); trang thiết bị, bàn ghế xét xử còn thiếu. 

Giải pháp khắc phục năm 2014:

Trong năm qua, Tòa án nhân dân tỉnh đã tổ chức họp rút kinh nghiệm xét xử theo định kỳ 6 tháng/lần, đánh giá kết quả giải quyết án, chỉ đạo giải quyết triệt để án tồn đọng, án quá hạn luật định (thông báo số 25 ngày 10-5-2013 về kết luận của đồng chí Chánh án TAND tỉnh tại cuộc họp sơ kết và rút kinh nghiệm công tác xét xử 6 tháng đầu năm 2013) và xác định các nội dung trong thời gian tới:  

Tiếp tục kiện toàn về mặt tổ chức xây dựng đội ngũ công chức tòa án trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, có trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao. Đẩy mạnh việc tạo nguồn thẩm phán cho tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện, thị xã. Kiên quyết xử lý những cán bộ công chức thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc dẫn đến án bị hủy, bị sai, án quá hạn do lỗi chủ quan (cụ thể 2013 đã kỷ luật 1 thẩm phán sơ cấp, không xét khen thưởng đối với những thẩm phán có án hủy do lỗi chủ quan).

Tiếp tục quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử và tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, thẩm phán và hội thẩm nhân dân từ đó góp phần nâng cao chất lượng của công tác xét xử .

Chỉ đạo đẩy nhanh việc nghiên cứu giải quyết các vụ án tồn đọng, án quá hạn luật định, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu của ngành do tòa án nhân dân tối cao quy định.  

Tiếp tục tổ chức tuyển dụng số lượng biên chế còn thiếu, hoàn thành các thủ tục bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại thẩm phán sơ cấp, trung cấp nhằm đáp ứng tốt hơn số lượng án ngày một tăng (hiện nay số biên chế đã được thực hiện là 187/206 còn thiếu 19 biên chế, trong tháng 11-2013 đã tổ chức thi tuyển với 23 thí sinh tham gia; số thẩm phán thực hiện được 60/91, còn thiếu 31 thẩm phán, hiện đã làm hồ sơ đề nghị bổ nhiệm 11 thẩm phán sơ cấp trình hội đồng tuyển chọn thẩm phán của tỉnh, hiện đang đưa đi đào tạo nghiệp vụ xét xử đối với 13 thư ký, đến tháng 7-2014 tốt nghiệp, số này khi ra trường đủ điều kiện để bổ nhiệm thẩm phán sơ cấp).

Theo Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội về công tác phòng chống vị phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án, theo đó trong năm 2013 phải chấm dứt việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không có căn cứ, tuy nhiên trong năm tòa án các cấp đã trả cho Viện kiểm sát 87 vụ, VKS giữ quan điểm 45 vụ, tòa án đã xét xử 34 vụ, trách nhiệm của Chánh án TAND tỉnh trong vấn đề này như thế nào?

Trả lời: Trong năm, tòa án nhân dân hai cấp đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung là 87 vụ: cấp tỉnh 11 vụ, cấp huyện 76 vụ. Qua kiểm tra thì tất cả các vụ án sau khi Tòa án nhân dân tỉnh trả hồ sơ thì Viện kiểm sát nhân dân tỉnh vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng theo yêu cầu của TAND tỉnh (như tiến hành lấy lời khai, điều tra, xác minh để làm rõ các vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung của tòa án và giữ nguyên cáo trạng), như vậy là Viện kiểm sát đã chấp nhận hết 11 vụ trả hồ sơ của tỉnh.

Cấp huyện, thị xã: Trả hồ sơ điều tra bổ sung 76 vụ, trong đó có 41 vụ viện kiểm sát báo không chấp nhận giữ nguyên quan điểm truy tố; tuy nhiên trong số 41 vụ có 26 vụ tòa án trả hồ sơ viện kiểm sát không thay đổi cáo trạng nhưng vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng theo yêu cầu, 15 vụ trả hồ sơ viện kiểm sát không bổ sung, như vậy cấp huyện chỉ có 15 vụ viện kiểm sát không chấp nhận. Để khắc phục tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung không có căn cứ, tòa án nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 12/TA-VP ngày 2-4-2013 chỉ đạo việc kiểm tra việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đảm bảo phải đúng các quy định của pháp luật tố tụng và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao; nếu có thẩm phán vi phạm phải chấn chỉnh để chấm dứt việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra không đúng quy định.

Hướng khắc phục: Trong thời gian tới ngành sẽ tiến hành chỉ đạo và kiểm tra chặt chẽ hơn đối với các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, đảm bảo 100% các vụ án trả có căn cứ; bên cạnh đó phối hợp chặt chẽ hơn với Viện kiểm sát nhân dân các cấp để thống nhất về các quan điểm về trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Tỷ lệ cho hưởng án treo tại Bù Gia Mập rất cao, trong khi tình hình tội phạm gia tăng và công tác quản lý người thi hành án treo còn thiếu chặt chẽ, đề nghị Chánh án TAND tỉnh giải trình cụ thể?

Trả lời: Thực hiện sự chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao, ngày 2-4-2013 Tòa án nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 12/TA-VP chỉ đạo TAND các huyện, thị xã đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, đặc biệt khi xét cho hưởng án treo, cải tạo không

giam giữ phải đúng quy định của pháp luật. Trong năm 2013, TAND huyện Bù Gia Mập đã xét xử 158 vụ/381 bị cáo; đối với 381 bị cáo đã đưa ra xét xử và bị kết án có 81 bị cáo được hưởng án treo (tỷ lệ 21,25% so với tổng số người bị kết án). Qua công tác kiểm tra (kết quả kiểm tra bản án và kiểm tra trực tiếp hồ sơ) và công tác xét xử  phúc thẩm về hình sự cho thấy TAND huyện Bù Gia Mập cho các bị cáo hưởng án treo là đúng các quy định của Bộ luật hình sự và hướng dẫn của TAND tối cao.

Theo quy định tại điều 60 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 2-7-2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì điều kiện để được hưởng án treo là: Bị xử  phạt tù không quá 3 năm; Có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt pháp luật…); Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nếu không bắt người phạm tội đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. 

Ngoài quy định của pháp luật như trên, tại các cuộc họp rút kinh nghiệm xét xử, tỉnh thường xuyên chỉ đạo các huyện, thị xã phải xét xử đảm bảo được yêu cầu   6 phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong năm qua đã kháng nghị xét xử lại một số vụ cho hưởng án treo không đúng hoặc xử mức hình phạt quá nhẹ.

Về công tác quản lý người thi hành án treo: Kể từ ngày 1-7-2011, Luật Thi hành án Hình sự có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại điều 15, 20, 61, 62, 63 của luật này thì: Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, quận nơi người bị kết án cư trú có trách nhiệm quản lý và thi hành án treo đối với người được hưởng án treo; Tòa án chỉ ra quyết định thi hành án và gửi hồ sơ đến cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện nơi người bị kết án cư trú để thực hiện.

Thời gian qua, xuất hiện một số vụ án phức tạp, án quá hạn kéo dài trong công tác giải quyết án của ngành Tòa án nhân dân, ví dụ như vụ án “Vườn mít”, vụ sai phạm của Ban quản lý chợ Đồng Xoài, …đề nghị cho biết nguyên nhân; chất lượng xét xử của ngành và trách nhiệm của Chánh án TAND tỉnh khi để xảy ra tình trạng trên?

Trả lời: Nguyên nhân một số vụ án phức tạp kéo dài: 

Vụ án Lê Bá Mai: Vụ án kéo dài từ năm 2004 đến 2013, qua 3 lần xét xử sơ thẩm, 3 lần xét xử phúc thẩm và 1 lần giám đốc thẩm, với lý do: vụ án đặc biệt phức tạp, quá trình điều tra đã có một số vi phạm trong việc khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dấu vết, vật chứng cũng như giao nhận và bảo quản vật chứng; người làm chứng còn quá nhỏ nên  lời khai mâu thuẫn với đặc điểm, đồ vật, màu sắc mà bị cáo mang theo; về bị cáo: lúc đầu thì thừa nhận hành vi phạm tội  nhưng sau đó thì không nhận tội và cho rằng những lời khai nhận trước đó là do bị ép cung, mặt khác bị cáo muốn được sớm đưa ra xét xử để minh oan cho bị cáo. Mặt khác trong quá trình tố tụng, TAND tỉnh đã tổ chức họp liên ngành bàn về đường lối giải quyết, tuy nhiên không thống nhất về đường lối xét xử . 

Vụ án Đặng Công Văn và đồng phạm: Ngày 5-7-2011 Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài đã xét xử sơ thẩm quyết định: Tuyên bố bị cáo Đặng Công Văn, Bùi Văn Quỳnh phạm tội: “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” phạt tù giam; Phạm Thị Hồng Vân tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Sau đó các bị cáo kháng cáo, ngày 19-8-2011 TAND tỉnh Bình Phước thụ lý vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu; theo quy định thời gian chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu là 10 ngày, tuy nhiên sau 3 tháng 24 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh mới chuyển lại hồ sơ cho TAND tỉnh Bình Phước giải quyết (từ 22-8-2011 đến 6-12-2011); do vụ án xảy ra đã lâu, phức tạp, hồ sơ vụ án nhiều (gồm 19 tập) nên cần có thời gian nghiên cứu để giải quyết. Ngày 10, 11-5-2012 TAND tỉnh xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm của TAND thị xã Đồng Xoài, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra xét xử lại với lý do là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và điều tra chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung. Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài đang tiến hành giải quyết theo thẩm quyền.

Vụ án Nguyễn Thị Sạnh: Vụ án thụ lý số 42/HSST ngày 17-7-2013, bị cáo Nguyễn Thị Sạnh bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi thụ lý vụ án thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa đã ký quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 24-9-2013, tuy nhiên tại phiên tòa  sơ thẩm vào ngày 24-9-2013 vắng mặt ông Trần Hoàng Sơn, bà Trần Thị Hồng Thắm và một số người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, do đó để đảm bảo quyền lợi cho người vắng mặt nên chủ tọa phiên tòa đã ra quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở phiên tòa lại vào ngày 8-10-2013.

Tại phiên tòa ngày 8-10-2013 ông Trần Hoàng Sơn và bà Trần Thị Hồng Thắm vẫn không tham gia phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ Hội đồng xét xử   quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở phiên tòa vào sáng ngày 16-10-2013.

Tại phiên tòa ngày 16-10-2013 ông Nguyễn Hoàng Sơn và bà Trần Thị Hồng Thắm vẫn không tham gia, tuy nhiên Hội đồng xét xử vấn tiến hành việc xét xử vì thành phần tham gia phiên tòa đã đầy đủ và ông Trần Hoàng Sơn có đơn xác nhận đồng ý lấy số tài sản chung của vợ chồng thực hiện việc trả nợ chỉ xin giữ lại chiếc xe tải nhỏ và 2 ha cao su. Sang ngày xét xử thứ 2, ông Sơn có tham gia phiên tòa nhưng chỉ 15 phút rồi tự ý bỏ về. 

Phiên tòa được kéo dài trong ba ngày từ ngày 16 đến ngày 17 và kết thúc vào sáng 18-10-2013. Nhưng tất cả những vấn đề quan trọng của vụ án vẫn chưa được bị cáo giải thích một cách hợp lý trong lời khai, bị cáo quanh co trong việc giải thích các khoản vay vào mục đích gì, sự liên quan của ông Sơn, bà Thắm trong khối tài sản chiếm đoạt của bị cáo, hơn nữa bị hại lại đông, số tiền chiếm đoạt lại lớn, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống nhiều người. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước để điều tra, thu thập thêm chứng cứ.

Đối với 2 vụ án: Đặng Công Văn và đồng phạm; vụ án Nguyễn Thị Sạnh khi viện kiểm sát điều tra bổ sung xong và chuyển sang thì tòa án sẽ tiến hành xét xử  theo luật định.

Chánh án: Nguyễn Hữu Trí

  • Từ khóa
10524

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?