Tại kỳ họp lần thứ tám, HĐND tỉnh khóa VIII diễn ra từ ngày 4 đến 6-12-2013, Sở Giáo dục - Đào tạo đã có Văn bản số 3245/BC-SGDĐT giải trình một số nội dung chất vấn của Đại biểu HĐND tỉnh. Dưới đây, Báo Bình Phước xin giới thiệu cùng bạn dọc nội dung trong văn bản này:
Việc quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ hiện nay chưa được hỗ trợ kịp thời?
.jpg)
Ảnh minh họa - H.L
Theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14-5-2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, Thông tư số 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 15-11-2010 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP, những đối tượng miễn thu học phí và đối tượng giảm 50% thu học phí sẽ được nhà nước cấp bù kinh phí trở lại để cho nhà trường hoạt động; những đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập với mức hỗ trợ 70.000 đ/HS/tháng sẽ được cấp trong 9 tháng/năm học. Việc chi trả cấp bù học phí được cấp đủ trong 9 tháng/năm học và thực hiện 2 lần trong năm: lần 1 chi trả đủ 4 tháng vào tháng 9 hoặc tháng 10, lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 3 hoặc tháng 4.
Căn cứ theo các quy định tại các văn bản nêu trên và phân cấp quản lý giáo dục Sở Tài chính cấp kinh phí cấp bù học phí về cho Sở GD-ĐT để chi trả cho các trường trực thuộc Sở GD-ĐT và cấp kinh phí cho các huyện, thị xã đối với các trường do huyện quản lý để cấp trực tiếp đến cho từng trường và cho gia đình học sinh (đối với kinh phí hỗ trợ chi phí học tập). Đến nay đã cấp xong phần kinh phí hỗ trợ chi phí học tập và cấp bù học phí của năm 2012.
Riêng năm 2013, nhu cầu kinh phí cấp bù học phí và hỗ trợ chi phí học tập của toàn tỉnh là 51,253 tỷ đồng. Đến nay UBND tỉnh đã có Quyết định số 2144/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 phân bổ kinh phí thực hiện Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14-5-2010 đợt 1 năm 2013 cho các huyện thị và khối trực thuộc với tổng kinh phí là 18.948 triệu đồng, trong đó, khối trường trực thuộc Sở GD-ĐT được phân bổ 4,008 tỷ đồng, khối trường thuộc các huyện/thị: 14,940 tỷ đồng. Nhìn chung, trong thời gian qua, tỉnh Bình Phước đã cấp đầy đủ kinh phí hỗ trợ chi phí học tập và cấp bù học phí theo đúng quy định. Tuy nhiên, do nguồn ngân sách tỉnh còn hạn chế và phải chờ nguồn bổ sung từ trung ương nên việc cấp các khoản kinh phí nêu trên chưa được kịp thời.
Bình Phước là một trong số các tỉnh chưa hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (PCGDTHĐĐT) và huy động trẻ 5 tuổi ra lớp. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ sở vật chất trường lớp chưa đảm bảo. vậy việc cố gắng chạy theo liệu có đảm bảo chất lượng học tập của trẻ không? Hiện nay các trường mầm non ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số không đủ phòng học, số trẻ dưới 5 tuổi ra trường chưa đạt, vì vậy đa số trẻ em dân tộc thiểu số đều không biết tiếng Việt. Cần có những biện pháp quyết liệt hơn để đảm bảo cho ngành học mầm non đạt chuẩn?
Đối với việc thực hiện chương trình PCGDTHĐĐT: Đến nay, toàn tỉnh đã có 103/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 (đạt 92,79% so với tổng số xã, phường, thị trấn, vượt 2,79% so với quy định của Bộ GD-ĐT trong việc công nhận tỉnh đạt PCGDTHĐĐT). Hiện tại, Sở GD-ĐT đang hoàn thiện hồ sơ, trình Bộ GD-ĐT thành lập kiểm tra, công nhận tỉnh Bình Phước đạt PCGDTHĐĐT mức độ 1, năm 2013. Tất cả các đơn vị đạt PCGDTHĐĐT đều đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định, không xảy ra hiện tượng chạy theo thành tích.
Đối với công tác thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non (PCGDMN) cho trẻ 5 tuổi: Căn cứ vào Quyết định số 2579/2010/QĐ-UBND ngày 8-11-2010 của UBND tỉnh Bình Phước về việc Quyết định phê duyệt Đề án PCGDMN cho trẻ năm tuổi giai đoạn 2010-2015, Sở GD-ĐT đã xây dựng kế hoạch để thực hiện đề án đúng thời gian, đến nay toàn tỉnh có 57/111 xã, phường, thị trấn đạt PCGDMN cho trẻ 5 tuổi, đạt 51,35%. Trong năm học 2013-2014, số trẻ 5 tuổi huy động ra lớp đạt 99% so với tổng số trẻ trong độ tuổi trên địa bàn, số trẻ mẫu giáo (từ 3-5 tuổi) ra lớp đạt 81,35%; nguyên nhân chính của việc huy động trẻ ra lớp chưa đạt yêu cầu là do cơ sở vật chất của ngành học mầm non còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, cụ thể: 7 xã, phường chưa có trường mầm non, còn tình trạng học 2 ca/ngày, còn 113 phòng học nhờ, học tạm tại các nhà văn hóa xóm, ấp..., so với nhu cầu, toàn tỉnh còn thiếu 675 phòng học để đảm bảo cho việc thực hiện Đề án PCGDMN cho trẻ 5 tuổi.
Để giải quyết tình trạng thiếu trường, lớp học và thực hiện Đề án PCGDMN cho trẻ 5 tuổi, trong thời gian tới cần tăng cường vận động trẻ em trong độ tuổi ra lớp, tiếp tục xây dựng trường mầm non cho 7 xã, phường chưa có trường (gồm: phường Tân Thiện - thị xã Đồng Xoài; xã Thành Tâm - huyện Chơn Thành; phường Phú Đức - thị xã Bình Long; phường Thác Mơ - thị xã Phước Long; xã Lộc Phú, xã Lộc An, xã Lộc Thành - huyện Lộc Ninh); đồng thời xây dựng thêm phòng học cho các trường Mầm non (năm 2013-2014: 372 phòng/111,6 tỷ đồng; năm 2014-2015: 303 phòng/90,9 tỷ đồng); đồng thời, tiếp tục củng cố, tăng cường đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên cho các trường mầm non để đảm bảo cho việc mở rộng quy mô trường lớp và nhu cầu học tập của con em nhân dân.
Đối với việc dạy tiếng Việt cho trẻ em DTTS: Ở bậc học mầm non: Sở GD-ĐT đã chỉ đạo các trường thực hiện đúng chủ trương của Bộ GD-ĐT, đảm bảo 100% số trẻ 5 tuổi được học tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Vì vậy, tất cả các trường mầm non đều thực hiện tốt việc trang bị tranh ảnh, chữ viết tiếng Việt để trẻ 5 tuổi được làm quen với tiếng Việt trước khi vào lớp 1.
Ở bậc tiểu học: Để chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh chưa qua mẫu giáo 5 tuổi trước khi vào lớp 1, trước khi nghỉ học, Sở GD-ĐT chỉ đạo cho các phòng GD-ĐT hướng dẫn các trường lập kế hoạch chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh DTTS, học sinh chưa qua mẫu giáo 5 tuổi trước khi vào lớp 1. Sở GD-ĐT đã tham mưu với UBND tỉnh tiếp tục sử dụng bộ tài liệu của Bộ GD-ĐT và duy trì chương trình chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em người Kinh ở vùng sâu, vùng sa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn, ở những nơi không có trường, điểm trường mẫu giáo, trẻ chưa qua mẫu giáo 5 tuổi trước khi vào lớp 1 với thời lượng 6 tuần trong hè trước khi học sinh tựu trường.
Khi học sinh đã vào lớp 1 cho đến các năm học về sau, các trường tiếp tục thực chương trình tăng cường tiếng Việt bằng cách tăng thời lượng của môn tiếng Việt nhiều hơn so với chương trình khung chính thức để tạo điều kiện cho học sinh giàu về vốn tiếng Việt, hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Tình trạng dạy thêm, học thêm (DTHT) hiện nay ở nhiều địa phương trong tỉnh và việc lạm thu trong các trường học công lập trên địa bàn tỉnh thời gian qua gây bức xúc trong nhân dân. Vai trò quản lý nhà nước và xử lý các vấn đề này như thế nào?
Trong thời gian vừa qua, Sở GD-ĐT tiếp tục chấn chỉnh, tăng cường quản lý đối với công tác DTHT và thu, chi trong các trường học, cụ thể: Chỉ đạo các trường thực hiện đúng các khoản thu theo quy định của nhà nước (học phí, quỹ Hội CMHS, tiền học thêm). Riêng đối với các khoản thu mang tính phục vụ trực tiếp cho học sinh (may đồng phục, số liên lạc, dọn dẹp vệ sinh…) do Hội CMHS thống nhất chủ trương, mức thu và cho phép nhà trường thu hộ. Thực hiện đúng quy định của Bộ GD-ĐT, UBND tỉnh trong công tác xét điều kiện và cấp giấy phép dạy thêm cho các trường, đồng thời ban hành các văn bản chỉ đạo về nội dung, chương trình dạy thêm, học thêm của các trường.
Thực hiện nghiêm các quy định cấm dạy thêm trong một số trường hợp cụ thể như sau: Cấm DTHT cho học sinh tiểu học, trừ trường hợp quản lý học sinh ngoài giờ học theo yêu cầu của gia đình, bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao, luyện tập kỹ năng đọc, viết; những trường hợp này phải được cha mẹ học sinh thỏa thuận bằng văn bản và phải được cơ quan có thẩm quyển cho phép và cấp giấy chứng nhận hoạt động. Cấm giáo viên dạy thêm ngoài nhà trường cho học sinh các lớp học 2 buổi/ngày; Không bố trí cho giáo viên dạy thêm trong nhà trường hoặc xác nhận cho dạy thêm ngoài nhà trường nếu kết quả giảng dạy trong năm học đạt thấp. Đồng thời, hạn chế tối đa việc xác nhận cho giáo viên dạy thêm ngoài nhà trường. Cấm giáo viên cắt xén chương trình chính khóa và ép buộc học sinh đi học thêm. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thường xuyên, thanh tra đột xuất về công tác thu chi tài chính trong trường học và công tác dạy thêm, học thêm; xử lý nghiêm theo quy định đối với các trường hợp vi phạm.
Việc dạy tiếng dân tộc trong các trường phổ thông: Hiện nay có 2/6 trường dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh dạy tiếng nói, chữ viết của đồng bào DTTS cho học sinh (tiếng Xêtiêng và Khơ me), UBND tỉnh đã có giải pháp gì để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa DTTD trên địa bàn tỉnh? Việc giảng dạy tiếng nói và chữ viết này có đảm bảo đúng đối tượng có nhu cầu?
Về những giải pháp để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, nội dung này do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì tham mưu UBND tỉnh, Sở GD-ĐT chỉ phối hợp thực hiện một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ chuyên môn của ngành nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh DTTS, giáo dục cho các em ý thức tự hào để từ đó các em luôn phấn đấu học tập, rèn luyện góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Riêng việc giảng dạy tiếng nói và chữ viết của đồng bào DTTS cho học sinh, hiện có 2/6 trường Dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh thực hiện việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh, cụ thể:
Trường phổ thông dân tộc nội trú Điểu Ong - huyện Bù Đăng thực hiện dạy tiếng Xêtiêng cho 70 học sinh khối lớp 6 của trường (trong đó có 49 học sinh người Xêtiêng, ngoài 49 học sinh này, học sinh các dân tộc khác cũng mong muốn được học tiếng Xêtiêng với mong muốn sau này sẽ được trở về công tác và phục vụ tốt hơn tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Tài liệu giảng dạy: Do giáo viên đứng lớp phối hợp với cán bộ địa phương biên soạn dựa theo tài liệu bồi dưỡng tiếng Dân tộc Xêtiêng đã thực hiện tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Bù Đăng phiên âm theo tiếng Xêtiêng của đồng bào dân tộc Xêtiêng ở khu vực Bù Đăng. Hình thức tổ chức dạy học: dạy 2 tiết/tuần, vào giờ tự học (buổi chiều) của học sinh.
Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Lộc Ninh thực hiện dạy tiếng Kh’mer cho 156 học sinh ( trong đó có 64 học sinh người Kh’mer) của trường, gồm: 66 học sinh lớp 6 (trong đó có 21 học sinh người h’mer); 34 học sinh lớp 7 (14 học sinh Kh’mer), 32 học sinh lớp 8 (15 học sinh Kh’mer) và 14 học sinh lớp 9 (đều là người Kh’mer). Chương trình: Dạy theo chương trình sách giáo khoa tiếng Kh’mer của Bộ GD-ĐT. Nhìn chung, việc giảng dạy tiếng nói và chữ viết Kh’mer và Xêtiêng ở 2 trường nói trên là đảm bảo đúng đối tượng và phù hợp có nhu cầu của học sinh.
Giám đốc: Nguyễn Văn Hùng

Câu lạc bộ thơ tỉnh Bình Phước phấn đấu có 5 tác phẩm phổ nhạc
Chủ tịch nước Lương Cường: Với bộ máy hành chính mới, Hà Nội cần tiên phong đổi mới tư duy quản lý
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân TPHCM và thông điệp gửi nhân dân cả nước
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập đơn vị hành chính
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử được cấp chậm nhất là ngày 1-1-2026