Chủ nhật, 05/04/2026 07:35:46 GMT+7
Bình Phước, 30°C/27°C - 33°C
aA

Chính trị 11:01, 25/06/2014 GMT+7

“Đường lưỡi bò” phi lý và chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa

Thứ 4, 25/06/2014 | 11:01:00 3,347 lượt xem
BP - Đã gần 2 tháng kể từ khi Trung Quốc ngang nhiên đưa hàng trăm tàu, trong đó có cả tàu quân sự và hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Bất chấp những biện pháp đấu tranh hòa bình nhưng đầy cương quyết của Việt Nam cũng như sự lên án của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn luôn bao biện cho những hành động sai trái và bảo vệ cái gọi là “cơ sở pháp lý” của quốc gia này về “đường lưỡi bò” tự vẽ trên biển Đông.

SỰ PHI LÝ VÀ PHI PHÁP CỦA “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ”

“Đường lưỡi bò”, “đường chữ U” hay “đường đứt đoạn”... đều là cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông. Đường yêu sách này ban đầu có 11 đoạn, do chính quyền Trung Hoa dân quốc vẽ vào năm 1947 và sau đó được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng có sửa đổi (bỏ bớt 2 đoạn trong vịnh Bắc bộ, chỉ còn lại 9 đoạn). Trong thực tế, không tìm thấy bất kỳ một tọa độ nào để xác định vị trí chính xác của “đường lưỡi bò” nhưng nó chiếm tới 80% diện tích biển Đông, có nơi cách bờ biển của các nước chỉ 50km. Mặc dù xuất bản bản đồ có “đường lưỡi bò”, nhưng cả chính quyền Trung Hoa dân quốc trước đó lẫn Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sau này đều chưa bao giờ chính thức tuyên bố yêu sách hay giải thích gì; cũng không có bất kỳ một tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của “đường lưỡi bò”. Vậy mà tới ngày 7-5-2009, Trung Quốc đã gửi công hàm tới Liên hiệp quốc, đi kèm một bản đồ thể hiện “đường yêu sách 9 đoạn” trên biển Đông.


Một góc đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam - Ảnh: Internet

Trong khi đó, các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như: Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842)... đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Hoa là Nhai huyện, đảo Hải Nam”. Đặc biệt, “đường lưỡi bò” này mâu thuẫn với quan điểm chính thức của nhà nước Trung Quốc đã nêu trong Tuyên bố ngày 4-9-1958 về các vùng biển, rằng: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm cả Trung Quốc và các đảo ven bờ cũng như Đài Loan và các đảo chung quanh Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác thuộc lãnh thổ Trung Quốc mà bị công hải tách ra khỏi lục địa và các đảo ven bờ lục địa”. Rõ ràng Chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các quần đảo của họ bị tách biệt khỏi lục địa ở biển cả chứ không phải các vùng nước lịch sử. Tức là Chính phủ Trung Quốc khẳng định không có vùng nước lịch sử nào ngăn cách đảo với lục địa. Thứ hai, các quốc gia đều không thừa nhận cái gọi là “các quyền lịch sử của Trung Quốc”. Tại Hội nghị hòa bình San Francisco (California - Mỹ) năm 1951, các nước đã bác bỏ đề nghị trao trả cho Trung Quốc các quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa) của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực đều đã đưa ra những quy định của mình về các vùng biển, cùng nhau ký kết các hiệp định phân định vùng biển chồng lấn cũng như các thỏa thuận hợp tác khác trong biển Đông.

QUỐC TẾ CÔNG NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

Ngày 7-9-1951, tại Hội nghị San Francisco có sự tham dự của phái đoàn 51 quốc gia, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”... “Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu hội nghị ghi nhận (chứng nhận)... Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của phái đoàn Việt Nam không hề gây ra một phản ứng chống đối hoặc yêu sách nào của 50 quốc gia còn lại tham dự hội nghị. Vì vậy đây chính là sự thừa nhận của các nước đồng minh về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này. Hơn nữa, Điều 2 của Hiệp ước Hòa bình San Francisco đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của 2 quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939-1946 cho Việt Nam. Chủ quyền đối với 2 quần đảo này hiển nhiên thuộc về Việt Nam! Sau Hội nghị San Francisco, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do lực lượng của chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, 2 quần đảo này được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia dự hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như chính quyền không tham dự hội nghị bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo và Tuyên bố Potsdam. Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco là sự tái lập (tái khẳng định) một tình thế đã có từ trước. Thêm nữa, Hội nghị Giơnevơ năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco (trong đó có Trung Quốc) cũng đã tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. (*)                                          

 Trung Lương
(*) Bài viết có tham khảo các tài liệu

  • Từ khóa
11357

Ý kiến ()

0 / 500 ký tự
Đang tải dữ liệu
Năm 2023 Bình Phước đứng thứ bao nhiêu xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh, thành cả nước?